Alain Teissonnière ’CPU’ đầu tiên của máy tính Việt Nam đã yên nghỉ

Trong bài xin được gọi là Alain như người Pháp kêu tên bạn thân vì một thời tôi đã làm việc dù không trực tiếp nhưng biết về anh tương đối rõ. Tôi coi Alain là CPU (bộ óc) đầu tiên và cha đỡ đầu của ngành vi tính Việt Nam cách đây hơn 30 năm.

Ngày 20/4/2009, trái tim của Alain Teissonnière, người bạn lớn của giới tin học Việt Nam, đã ngừng đập tại bệnh viện St Louis, Paris, hưởng thọ 72 tuổi. Người bạn Pháp ra đi để lại nỗi tiếc thương vô hạn cho thế hệ làm tin học vài thập kỷ kể từ năm 1977.

Tôi nhớ về Alain, một người gầy, ít nói, sống khiêm nhường, không thích được đăng báo hay cố giơ mặt trước ống kính tivi. Chỉ khi nghe thuyết trình về vi tính mới biết sức mạnh tri thức công nghệ và tầm nhìn xa tiềm ẩn trong anh. Chúng tôi vẫn luôn tự hỏi, tại sao một con người sống ở Paris hoa lệ lại dấn thân vì người nghèo ở xa xôi. Alain yêu đất nước này quá nên có người đã nghi anh làm gián điệp cho CIA hay Phòng Nhì.

KS Teissonnière, GS Phan Đình Diệu, phòng KTS. Liễu Giai ©NCCong 1979

Những năm cuối 1970 đầu 1980, nhìn cơm trong cặp lồng với vài ngọn rau muống và quả cà của cán bộ trong Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (VKHTT ĐK - sau này đổi tên là Viện Công nghệ Thông tin), anh quay đi lau nước mắt. Nhưng Alain vẫn cả quyết, công nghệ IT sẽ giúp mang đến thịt cá trong mâm cơm nếu Việt Nam biết giành lấy cơ hội.

Trong vai trò chuyên gia và cả ở cương vị Tổng thư ký Ủy ban vì Hợp tác Khoa học và Kỹ thuật với Việt Nam (Comité pour la Coopération Scientifique et Technique avec le Viet Nam), Alain đã sang làm việc tại Việt Nam rất nhiều lần, tìm tài liệu, học bổng và giới thiệu nơi làm việc tại Pháp cho hàng trăm thực tập sinh hoặc nghiên cứu sinh nước ta. Hàng trăm lượt chuyên gia Pháp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau sang giúp nước ta do anh giới thiệu. Ngoài ra, Alain còn tham gia giúp đỡ các nạn nhân của chất độc mầu da cam.

Anh được trao tặng giải thưởng năm 2005 của Liên đoàn Thực chứng Pháp (Prix de l’Union Rationaliste) và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.

Hầm máy tính ODRA-1304 tại Núi Cung, Liễu Giai ©NCCong 1979

Năm 1977, lần đầu Alain đến thuyết trình về kỹ thuật vi xử lý tại Viện, nơi có chiếc máy ODRA mua của Ba Lan giá hàng triệu rúp, chiếm mấy gian hầm chống B52 tại Đồi Thông trong làng Liễu Giai (Ba Đình, Hà Nội). Chiếc máy ODRA này là niềm tự hào tin học của miền Bắc lúc đó. Anh tiên đoán kỹ thuật vi tính sẽ thay thế chiếc ODRA cồng kềnh kia và sức mạnh tính toán sẽ được đặt trên chiếc bàn làm việc chứ không phải trong một căn nhà đồ sộ, tốn kém. Không ai tin được, kể cả những vị công tác lâu năm.

Hôm nay, ít người nhớ nước ta đã xuất xưởng chiếc máy vi tính đầu tiên của Châu Á từ phòng thí nghiệm tại Viện KHTTĐK. Có người cãi rằng đó chỉ là lắp ráp theo mẫu. Thôi cứ cho như thế, vì thật ra dân khoa học nhà ta không thích phục người khác. Chiếc máy được thiết kế với chip Intel 8080A nên anh em kỹ sư đặt tên là VT80, VT có nghĩa là vi tính. Người giúp cho VT80 ra đời không ngoài ai khác mà chính là Alain và đội ngũ kỹ sư trẻ của Viện, học trò của anh.

Thế hệ sau của VT80 là VT8X được mang đi ứng dụng thử vào quản lý vật tư cho xí nghiệp may Sinco tại Sài gòn vào năm 1981. Phần lập trình đều viết bằng ngôn ngữ bậc thấp assembler. Chiếc máy đó đã chứng minh rằng, vi tính là tương lai của công nghệ thông tin và sức mạnh tính toán có thể đặt trên một chiếc bàn.

KS Teissonnière và VT80 tại phòng Kỹ thuật số, Liễu Giai ©NCCong 1977

Người viết bài này rất nhớ lần mang chiếc VT8X đến Hội nghị thành ủy Sài gòn để trình diễn vào giờ nghỉ trưa, được các vị Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh và Mai Chí Thọ nghe rất chăm chú qua lời giới thiệu rất PR của PTS trẻ Vũ Duy Mẫn. Ông Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt hỏi đùa một câu “Giá chiếc máy bé xíu này tương đương với mấy tấn lúa?”.

Khi đó, khu vực Châu Á nói chung, trừ Nhật Bản ra, còn rất lạ lẫm với vi xử lý. Các đoàn từ Thái Lan, Nam Triều tiên, Singapore, Malaysia hay Ấn Độ đến thăm Viện nườm nượp, một nơi mà dân làng ở khu vực này vẫn dùng phân tươi, nước giải để tưới hoa và rau, đi vệ sinh phải đeo khẩu trang.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên thăm hỏi GS Phan Đình Diệu, vị đứng đầu ngành tin học, hay người chủ trì đề tài vi tính Nguyễn Chí Công về những tiến bộ đạt được. Cuối năm 1980, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Viện, thấy hoàn cảnh cơ cực của những nhà khoa học nên đã giao cho Phó thủ tướng Đồng Sĩ Nguyên, khi xây Viện Toán học trên Nghĩa Đô, phải dành một phần cho phòng thí nghiệm vi tính, để khách quốc tế đến thăm đỡ thấy đất nước mình quá khổ.

Nguyễn Chí Công và Teissonnière. Paris ©NCCong 1978

Quan hệ XHCN với các nước tư bản như Pháp lúc đó rất khó khăn, kèm theo cấm vận của Mỹ nhất là nhập khẩu công nghệ. Từ lãnh đạo đến cán bộ trẻ của Viện, sang Paris thực tập, khi về nước mang trong va li những linh kiện vi tính, dù với số tiền đó, họ có thể mua thêm một cái xe máy, tương đương một căn hộ lắp ghép Thành Công. Không thể nhập khẩu chip theo đường chính thức nên xách tay. Thử tìm thời nay còn mấy ai vì đất nước như thế. Nói đến hàng xách tay, người ta chỉ nhớ đến phi công bị bắt bên Nhật vì mang đồ ăn cắp hay vali sừng tê giác Nam Phi...

Tất cả những thành công sáng chói bước đầu của nền vi tính Việt Nam đều có dấu ấn của Alain và những cán bộ năng động hết lòng vì khoa học của Viện, dù chỉ dừng ở phòng thí nghiệm. Do cấm vận của Mỹ, không thể nhập công nghệ để sản xuất đại trà và do tầm nhìn hạn hẹp hay lợi ích nhóm nên chiếc máy vi tính VT80 không thể bơi ra biển lớn.

Hôm nay chiếc CPU hiệu “Alain Teissonnière” đã ngừng xử lí. Anh đã đi xa, chúng ta mất một người yêu quí trong khi tìm thêm bạn mới lại rất khó. Rất có thể khi trên giường bệnh, Alain nghĩ đến các nước Singapore, Hàn Quốc hay xa hơn là Ấn độ với chút thoáng buồn khi thấy Việt Nam bị bỏ lại phía sau, mà một thời ta đón họ đến học hỏi tại làng Liễu Giai thuở nào.

Nếu nắm bắt được vận hội, có lẽ hôm nay trong cặp lồng cơm có nhiều hơn cả thịt cá. Dịp may hiếm có 30 năm trước để vi tính Việt Nam trở thành thương hiệu quốc tế đã bị phai phí. Dẫu vậy, di sản của Alain Teissonnière để lại cho nền tin học Việt Nam, tầm nhìn xa về công nghệ và dấu ấn sâu đậm về tấm lòng của một người bạn Pháp vì người nghèo ở xứ Đông Dương sẽ sống mãi với thời gian.

Bài đăng 24-4-2009 trên Tiền Phong Online

TS Giang Công Thế gửi từ Washington DC

* Bài viết có tham khảo tư liệu của NCCông

Chuyện về chiếc máy vi tính đầu tiên của Việt Nam

Chỉ hai năm sau khi ra đời Altair 8800 Computer - chiếc máy vi tính đầu tiên của Mỹ, Việt Nam đã chế tạo thành công VT80 - chiếc máy vi tính đầu tiên của mình .

Tác giả của nó là một nhóm cán bộ kỹ thuật của Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ Thông tin), và TS Nguyễn Chí Công chính là một trong các thành viên lãnh đạo nhóm ấy. Trong chặng đường lịch sử ấy, các tác giả phải đối mặt trước những khó khăn nào? Và điều gì làm nên sự kì diệu ấy?

Thiết kế chế tạo những máy vi tính khác, giải mã những bức điện tối mật, truyền số liệu đi xa trên đường điện cao áp, xây dựng ngôn ngữ “Basic Đồi Thông”, viết phần mềm quản lý vật tư cho Xí nghiệp Máy may Sinco và Xí nghiệp Điện tử Tân Bình... đó là những thành tích tiếp theo VT80 và cũng do nhóm nói trên thực hiện cùng một số đồng nghiệp trong Viện từ 1978 đến năm 1983, trước khi định hướng ứng dụng bị thay đổi.

GS Van Regemorter, GS Phan Đình Diệu, KS Nguyễn Chí Công, Hà Nội ©NCCong 1979

Câu chuyện bắt đầu khi Uỷ ban vì sự Hợp tác KH&KT với Việt Nam (CCSTV) của Pháp được thành lập ("Đó gần như là cánh cửa duy nhất để Việt Nam có thể liên thông với thế giới KHKT đương đại” - lời của đại tướng Võ Nguyên Giáp). Năm 1977, GS Phan Đình Diệu trả lời thư tình nguyện chuyển giao công nghệ của Alain Teissonnière, chuyên gia phụ trách tin học của CCSTV và mời ông sang Viện. Có đến 54 người từ 7 viện, trường ở Hà Nội đã tham gia các buổi học về vi xử lý, một khái niệm hoàn toàn mới mẻ trên thế giới lúc đó. Ông Teissonnière vừa giảng chuyên đề này, vừa giúp các kỹ sư Việt Nam thực hành. Cùng đi chuyến này còn có chuyên gia điều khiển học Hoàng Thành Đào, một Việt kiều người dân tộc Thái đã hết lòng giúp đỡ các đồng nghiệp trong Viện KTQS.

Sớm hiểu được rằng các chip vi xử lý sẽ thay đổi sâu sắc cả thế giới, Nguyễn Chí Công cùng nhóm nói trên, phần lớn học từ Tiệp Khắc và Hungary trước đây, đã say sưa làm máy tính để biến lý thuyết khoa học thành sản phảm công nghệ. Những ngày đầu, khó khăn chồng chất như núi. Phòng ốc chật chội, ẩm thấp. Chế tạo máy tính mà điện đóm chập chờn. Thậm chí "điện không chỉ yếu mà mỗi tuần còn mất điện mấy ngày, mỗi ngày mất mấy lần" – ô. Công kể. Và bức bối hơn hết là bị Mỹ cấm vận toàn diện. Liên lạc, giao lưu với quốc tế bị vướng từ cả hai phía. Ô. Teissonnière thậm chí từng bị nghi là CIA.

KS Teissonnière và phòng Kỹ thuật số, Liễu Giai ©NCCong 1977

Trong cả nhóm chế tạo máy tính, ô. Công là một trong 3 người tốt nghiệp đại học đúng chuyên ngành và đã từng làm việc 4 năm trên các máy tính Liên Xô, Ba Lan; còn những người khác chủ yếu học về điện tử và công nghệ vật liệu... Ông được đọc các tài liệu tiếng Anh và thực hiện các bộ phận xử lý của VT80. “Tài liệu lúc ấy vô cùng hiếm. Chiến tranh liên miên khiến thông tin bị trì trệ, ách tắc. May mắn sao, trước khi ông Teissonnière sang Việt Nam tôi đã được đọc về vi xử lý trong một số tạp chí của Mỹ do Trung Quốc copy và gửi cho Thư viện KHKTTƯ”.

Khi ấy, cũng như phần lớn các kỹ sư khác của nhóm, Nguyễn Chí Công mới 28 tuổi. Cả nhóm miệt mài chạy đua với thời hạn gần 2 tháng nghỉ không lương của Teissonnière. Người thiết kế, người vạch kế hoạch thực hiện, mỗi người làm một việc, tất cả đều còn rất trẻ, song tinh thần tập thể rất cao. Ô. Công kể: “Nhớ lại thấy ngạc nhiên đến buồn cười vì sự quyết tâm của tuổi trẻ. Thời gian ngắn như thế mà dám vừa tiếp thu lý luận mới, vừa tự tay mày mò làm cái chưa từng biết. Thô sơ đến mức cưa bằng tay cho xong vỏ máy rồi lại lấy dũa mài vuông vắn, phải dùng công tắc đưa từng bit dữ liệu vào thay thế cho bàn phím lúc ấy chưa có... Ngoài các chip do ông Teissonnière mua từ nước ngoài, hầu hết các bộ phận khác của VT80 đều được làm thủ công ở trong nước, thậm chí sau này màn hình còn được chế tạo từ chiếc tivi Neptune trắng đen do Việt Nam lắp ráp theo thiết kế Ba Lan”.

KS Teissonnière và VT80 tại phòng Kỹ thuật số, Liễu Giai ©NCCong 1977

Đúng hạn, chiếc máy vi tính đầu tiên sử dụng chip Intel 8080A với tên gọi VT80 đã ra đời, nhỏ gọn gấp hàng trăm lần chiếc máy tính Odra 1304 của Ba Lan nhập về Viện năm 1974. Sản phẩm VT80 được xây dựng theo kỹ thuật quấn dây điện nối các chân cắm chip, gồm bìa CPU, nhiều bìa RAM/ROM và I/O cùng các thứ lỉnh kỉnh từ bảng điều khiển đến vỏ máy, nguồn điện. Sau này, được xem chiếc máy Altair 8800 của Mỹ đã ghi vào lịch sử công nghệ thông tin thế giới, ô. Công mới biết VT80 thậm chí còn nhỏ gọn hơn, mặc dù về tính năng thì hai máy rất giống nhau.

Chiếc máy tính đầu tiên của Việt Nam ra đời với vài chương trình cơ bản tối thiểu song lại không có... phần mềm ứng dụng. Ở Mỹ lúc đó cũng mới chủ yếu dùng máy vi tính để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ứng dụng chưa rộng rãi. Mấy tháng sau, ô. Công là người đầu tiên được chọn sang Pháp để thực tập về vi xử lý. Trung tâm nghiên cứu triển khai của Công ty Điện lực Pháp là nơi ông được đến nghiên cứu. Với kinh nghiệm sẵn có và lòng ham học hỏi, ông được tham gia dự án: Tự động hóa các thiết bị điều khiển lưới điện cao áp bằng vi tính. Trong thời gian vài tháng, ông đã tranh thủ tìm hiểu bộ vi xử lý Intel 8085 có khả năng mạnh về ngắt và xây dựng một hệ phát triển các máy vi tính công nghiệp dựa trên chip mới này.

KS Nguyễn Chí Thức và KS Nguyễn Chí Công, Liễu Giai ©NCCong 1979

Dự án thành công hơn cả tưởng tượng, ông được toàn quyền sử dụng các thiết kế của mình vào những mục đích phi lợi nhuận. Và đó là những viên gạch đầu tiên trong ý tưởng xây dựng dòng máy vi tính VT8X cùng với việc gửi những thực tập sinh tiếp theo. Chiếc máy tính thứ hai được cải thiện nhiều so với chiếc đầu tiên, bởi đã có được ổ đĩa mềm, màn hình và bàn phím với bộ vi xử lý mạnh hơn.

Đến năm 1982, ô. Công lại được Viện cử sang Pháp 6 tháng học thiết kế vi mạch cực lớn (LVSI) và nghiên cứu lý thuyết mạng máy tính. Mạng là một trong các ứng dụng lớn nhất mà ông có điều kiện triển khai ở nhiều nơi khác sau này như FPT, mạng truyền xa in báo Nhân Dân và Quân đội Nhân dân, mạng của Học viện IFI, các mạng của Quốc hội, Bộ Ngoại giao và Chính phủ, v.v.

Tự đánh giá về thời kỳ ấy, TS Công cho rằng: "Đóng góp ý nghĩa nhất đã vượt ra ngoài những chiếc máy vi tính. Chính định hướng đúng đắn về làm chủ công nghệ tương lai này và ứng dụng nó vào quản lý từ 30 năm trước đã chứng tỏ ngành tin học Việt Nam từng một lần "sánh vai với cường quốc năm châu", lẽ nào lại để mất cơ hội khác? Các bạn trẻ ngày nay hoàn toàn có thể làm được hơn chúng tôi nếu học sâu, suy nghĩ xa và nắm bắt đúng thời cơ mới."

Thúy Hằng, Tạp chí Tia Sáng, tháng 4-2007

Những người đầu tiên làm vi xử lý

Trong lịch sử công nghệ hiện đại, ít phát minh nào có tác động sâu rộng như bộ vi xử lý. Nó là nền tảng của máy vi tính, điện thoại thông minh, hệ thống nhúng… và toàn bộ kỷ nguyên số. Mở đầu là nhóm kỹ sư trẻ tụ tập về công ty Intel (do Robert Noyce và Gordon Moore thành lập vào năm 1968 tại Thung lũng Silicon), trong đó có thực tập sinh người Nhật Bản đóng vai trò then chốt là Masatoshi Shima (xem ảnh trên).

(Theo nguồn tin khác, bộ vi xử lý đầu tiên trên thế giới được thiết kế và phát triển từ 1968 đến 1970 bởi Steve Geller và Ray Holt. Bộ chip LSI tên là MP944, được sản xuất bởi American Microsystems, Inc. ở Santa Clara, CA và được dùng cho máy bay chiến đấu F14A “TomCat”. Nhóm thiết kế làm việc cho Garrett AiResearch Corp theo hợp đồng bí mật ký với Grumman Aircraft, nhà thầu chính của Hải quân Mỹ).

Robert Noyce và Gordon Moore

Nguồn gốc trực tiếp của vi xử lý không đến từ phòng thí nghiệm Intel, mà từ một đơn đặt hàng của hãng Nhật Bản Busicom vào năm 1969. Busicom muốn Intel thiết kế “một bộ gồm 12 chip logic tùy biến” để dùng cho dòng máy tính cầm tay có thể lập trình. Phía Busicom có Masatoshi Shima chịu trách nhiệm mô tả yêu cầu hệ thống và làm việc trực tiếp với Intel. Đề bài ban đầu mang tính “truyền thống”: thiết kế phần cứng chuyên dụng cho từng chức năng.

Tại Intel, kỹ sư Ted Hoff nhìn thấy vấn đề cốt lõi là thiết kế 12 chip riêng lẻ sẽ “tốn kém, khó mở rộng và thiếu linh hoạt”. Ông đề xuất một ý tưởng táo bạo vào thời điểm đó là “tạo ra một chip xử lý đa dụng” có thể lập trình bằng phần mềm để thực hiện các chức năng khác nhau. Nói cách khác, thay vì “đóng cứng” logic vào phần cứng, hãy “đưa logic vào chương trình” phần mềm. Đây chính là bản chất của vi xử lý hiện đại. Hoff cùng Stanley Mazor đã phác thảo kiến trúc khái niệm của con chip này.

Ted Hoff

Tuy nhiên, từ ý tưởng đến sản phẩm thương mại hoá là một quãng đường xa. Intel tuyển được Federico Faggin, một kỹ sư có kinh nghiệm sâu về công nghệ MOS. Faggin là người “thiết kế chi tiết, tối ưu và đưa kiến trúc 4004 thành con chip thực tế”. Phía Busicom, Shima không chỉ là “khách hàng” mà còn “tham gia trực tiếp vào thiết kế logic, tập lệnh, kiểm thử và hoàn thiện hệ thống”, đóng vai trò cầu nối kỹ thuật giữa yêu cầu ứng dụng và khả năng của công nghệ silicon.

Bộ chip Intel 4004 không tồn tại đơn lẻ mà là một hệ thống MCS-4 gồm chip 4004: CPU xử lý 4-bit, chip ROM: chứa chương trình, chip RAM: chứa dữ liệu, chip I/O: quản lý vào/ra. Shima hiểu rõ máy tính cầm tay cần gì trong thực tế, còn Intel hiểu rõ giới hạn và tiềm năng của công nghệ. Sự kết hợp này tạo ra một hệ thống “nhỏ gọn mà có khả năng tính toán tổng quát” là điều chưa từng có trước đó.

Federico Faggin

Ngày 15/11/1971, Intel công bố 4004 bộ vi xử lý thương mại đầu tiên trên thế giới với giá 60 USD. Con chip chứa khoảng 2.250 transistor chạy ở tần số 740 kHz, nhưng ý nghĩa của nó vượt xa thông số kỹ thuật. Lần đầu tiên trong lịch sử có một “CPU hoàn chỉnh nằm trong một con chip”, có thể “tái lập trình cho nhiều mục đích khác nhau”, và không bị giới hạn bởi một thiết bị cụ thể.

Intel đã “đàm phán lại quyền sở hữu” với Busicom, cho phép Intel bán 4004 như một sản phẩm chung, không chỉ dành cho máy tính cầm tay. Quyết định này đã mở ra ngành công nghiệp vi xử lý. Sau 4004, Intel đã nhanh chóng phát triển chip 8008 rồi 8080A và cuối cùng là dòng chip x86 với một kiến trúc thống trị máy vi tính qua vài thập kỷ liên tiếp. Còn Masatoshi Shima sau đó tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong lịch sử vi xử lý Nhật Bản, đặc biệt với chip Zilog Z80.

Stanley Mazor

Nhìn lại, chúng ta thấy vi xử lý không phải sản phẩm của một thiên tài đơn lẻ mà là kết quả của nhiều yếu tố cấu thành như: tầm nhìn kiến trúc (Hoff, Mazor), năng lực công nghê (Faggin), hiểu biết hệ thống và ứng dụng thực tế (Shima), và bối cảnh lịch sử cho phép ý tưởng mạo hiểm sớm được thử nghiệm.

Sự ra đời của chip vi xử lý đã chứng minh rằng công nghệ đã nhiều khi tiến bộ không theo kế hoạch ban đầu. Intel muốn làm bộ nhớ, Busicom muốn làm máy tính cầm tay, nhưng kết quả lại là một phát minh thay đổi thế giới. Lịch sử công nghệ không chỉ được viết bởi các tập đoàn lớn, mà còn bởi những kỹ sư hiểu sâu nhu cầu thực tế và dám phá vỡ cách làm cũ kỹ.

#NgChiCong ©2007-2019, Bảo tàng CNTT

Từ vi xử lý đến máy vi tính

Ngày 16-11-1971, bộ vi xử lý Intel 4004 chính thức xuất hiện. Tiếp theo, hàng loạt bộ vi xử lý khác và máy tính cá nhân đã ra đời. Đó là một cuộc cách mạng công nghệ dẫn đến việc phổ cập xử lý thông tin cho tất cả loài người và thay đổi mọi mặt xã hội trên thế giới theo cách sâu sắc nhất.

Năm 1968, Robert Noyce và Gordon Moore thành lập công ty Intel. Sản phẩm hái ra tiền đầu tiên của họ là chip nhớ RAM tĩnh có dung lượng 64 bit. Tháng 4-1969, Intel ký hợp đồng chế tạo 12 chip khác nhau cho dòng máy tính bán hàng Busicom của hãng Nhật NCMC. Người đầu tiên có ý tưởng làm ra CPU chỉ trong một chip thay vì 12 con là Masatoshi Shima, một kỹ sư 26 tuổi do NCMC cử đến Mỹ để thực tập, theo dõi và phối hợp cùng Intel thực hiện hợp đồng.

Bộ vi xử lý 4-bit Intel 4004

Nhưng tại thời điểm 1969, Intel không có đủ nguồn nhân lực để phát triển cho Busicom đủ cả 12 chip. Shima, Hoff và Mazor bèn thử nhét tất cả vào một vài chip đơn để tiết kiệm chi phí và do đó giảm số lượng các linh kiện bán dẫn, tức là phải thiết kế lại để có thể chứa chúng trong loại vỏ chip 16 chân nhỏ xíu (DIL16, xem ảnh trên) mà Intel sử dụng hồi ấy.

Không may hãng NCMC bị phá sản trước khi hợp đồng hoàn thành, Shima ở lại Mỹ và chuyển sang làm cho Intel. Hãng này đã khôn ngoan mua lại bản quyền chip 4004 với giá 60 nghìn USD và đăng ký bằng sáng chế U.S. Patent #3,821,715 cho 3 kỹ sư Mỹ: Ted Hoff, Stan Mazor (người viết phần mềm cho chip mới) và Federico Faggin (người phát triển cổng logic bằng silicon thay cho germanium quá nhậy cảm với nhiệt độ và khó kiểm soát). Còn Shima sau này được vinh danh khá muộn màng ở quê hương mình.

Chín tháng sau, bộ sản phẩm hoàn thiện và bao gồm: chip ROM lưu trữ phần mềm 4001, chip RAM lưu trữ dữ liệu 4002, chip nhập-xuất dữ liệu 4003 và chip vi xử lý 4004 xử lý 4 bit dữ liệu. Chip 4004 chứa 2300 bóng bán dẫn, chạy ở tốc độ 100kHz và có thể thực hiện các phép toán số học và logic cơ bản. Giá bán của nó chỉ ở mức dưới 100 USD.

Bộ vi xử lý 8-bit Intel 8008

Không ít nhận thức mang tính bảo thủ của giới kinh doanh máy tính mini trong những năm 1970. Một chuyên gia của công ty DEC nói: “Đó là một vấn đề hấp dẫn nhưng nó sẽ khó có thể được xem như sản phẩm của tương lai”. Khá lâu sau đó, chip 4004 cũng vẫn chưa nhận được sự ủng hộ của số đông. Năm 1975, một kỹ sư cao cấp của DEC tuyên bố chip 4004 không thể là “người mở đường cho tương lai của Intel”.

Tháng 4-1972, Intel tung ra chip i8008 là bộ vi xử lý 8-bit được thiết kế riêng cho công ty Datapoint. Tuy nhiên Datapoint đã không thể thanh toán hợp đồng nên quyết định cấp quyền cho Intel được phép sử dụng con chip 8008, gồm cả sản phẩm của Datapoint là tập lệnh điều khiển. Chính tập lệnh đó đã trở thành nền tảng của kiến trúc x86 sau này.

Bước đột phá trong việc sản xuất vi xử lý đến vào năm 1974 với sự ra mắt của chip 8080 có tập lệnh điều khiển phức tạp hơn và đóng gói trong một vỏ mạch 40 chân (DIL40, xem ảnh dưới). Đây là hai sáng chế thực sự quan trọng làm gia tăng đáng kể sức mạnh của vi xử lý.

Bộ vi xử lý 8-bit Intel 8080

Từ khoảng cuối thập niên 1970 các chip vi xử lý và chip vi điều khiển đã xâm nhập dần vào hầu khắp mọi lĩnh vực. Sau này chỉ tính riêng trong năm 2000, toàn thế giới đã tiêu thụ tổng cộng 385 triệu chip vi xử lý và 6,4 tỉ chip vi điều khiển.

Ngay sau Intel, những công ty cạnh tranh như RCA, Motorola, NS, Texas, Honeywell và Fairchild v.v. cũng giới thiệu các chip tương tự, trong đó có dòng vi xử lý của Motorola với khả năng dùng trong điều khiển công nghiệp. Tuy nhiên, Intel lại trở thành người chiến thắng trong phần lớn các máy vi tính vì các đối thủ đã tính toán sai nhu cầu của người sử dụng, chẳng hạn hãng NS vội vàng cho ra mắt dòng chip xử lý 16 bit mạnh hơn nhưng không tương hợp với các chip 8 bit đã phổ biến từ trước.

Quan trọng hơn cả, hãng máy tính số 1 thế giới là IBM đã (ngẫu nhiên?) chọn bộ ba sản phẩm gồm chip Intel 8088, chương trình BIOS mã mở và hệ điều hành Microsoft DOS cho chiếc máy tính cá nhân IBM PC lịch sử, sau khi bị thất bại về tiếp thị với con chip và hệ điều hành riêng của mình trong loạt máy vi tính IBM 5120, năm 1980 nó có giá từ 9340 USD trở lên nên cao quá tầm tay của hầu hết cá nhân.

Bộ vi xử lý 16-bit Intel 8088

Tháng 11-1981 chiếc IBM 5150 hay PC (Personal Computer: máy tính cá nhân) đã đánh dấu một bước ngoặt cơ bản trong ngành máy tính. Giờ đây, người ta khó có thể thấy được tất cả những tác động mà một phần tư thế kỷ phát triển của máy tính cá nhân đã mang lại cho cuộc sống hàng ngày. Nhưng có một điều chắc chắn rằng nhiều người không thể hình dung thế giới sẽ ra sao nếu không có máy tính cá nhân tại gia đình hay công sở.

IBM PC chỉ được trang bị màn hình trắng đen, không có ổ cứng, sử dụng Intel 8088 chứa 29.000 bóng bán dẫn với tốc độ 4,77 MHz, ổ đĩa mềm 5,25 inch 160 KB, bộ nhớ RAM 64 KB và có khả năng mở rộng lên 256 KB. Chiếc PC chậm chạp và phức tạp này có giá tới 3.000 USD nhưng hồi ấy nó thuộc loại khá rẻ. Phần mềm cho nó chỉ dùng kiểu nhập dữ liệu dạng text (không phải dạng đồ hoạ), bao gồm hệ điều hành PC-DOS hoặc CP/M-86, trình dịch ngôn ngữ MBASIC hoặc UCSD Pascal, bảng tính VisiCalc và trình soạn thảo Easywriter.

25 năm sau, người sử dụng có thể sắm một PC với cấu hình cơ bản gồm Intel Celeron D, ổ cứng 160 GB, RAM 256 MB và màn hình phẳng với giá chưa đến 500 USD. Hoặc họ có thể sở hữu máy tính hiệu suất hoạt động cực cao với Intel Core 2 Duo, RAM 4 GB, ổ cứng 500 GB theo nhiều mức giá khác nhau tùy từng nhà sản xuất.

Máy tính cá nhân

Báo chí thường so sánh giữa tốc độ phát triển của bộ vi xử lý với 2 ngành sản xuất xe hơi và máy bay. Nếu hai ngành công nghiệp này phát triển với tốc độ tương đương ngành công nghiệp bán dẫn thì một chiếc Rolls-Royce sẽ có giá 2,75 USD và đi được 4,8 triệu km mà chỉ tốn 4 lít xăng. Trong khi đó, chiếc máy bay Boeing 767 chỉ còn 500 USD và bay vòng quanh trái đất trong 20 phút với 20 lít nhiên liệu.

Hiện nay, kỹ thuật vi xử lý hướng tới người tiêu dùng, khác với trước đây chính phủ Mỹ sử dụng kỹ thuật vi mạch chủ yếu vì mục đích chính trị trong cuộc đua "chinh phục vũ trụ" với Liên Xô. Cựu đồng chủ tịch Intel Gordon Moore năm 1965 đã cho rằng khả năng của bộ vi xử lý sẽ tăng xấp xỉ gấp đôi trong vòng 18 tháng, tạo ra sự tăng trưởng cấp số mũ về sức mạnh tính toán trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Được biết đến với tên gọi Định luật Moore, xu hướng này vẫn đúng cho tới ngày nay.

#NgChiCong ©2007-2019, Bảo tàng CNTT

Thung lũng Silicon

“Thung lũng Silicon” là cái tên mà báo chí đặt cho Santa Clara từ những năm 1970. Thực ra nó chỉ là nửa thung lũng với vịnh San Francisco ở phía đông và các dãy đồi rừng ở phía tây. Trước đó, nơi đây vốn yên tĩnh, vắng vẻ với nhiều vườn cây và chỉ mới có một trung tâm lớn là Đại học Stanford.

Cũng theo báo chí, hình như công ty nào ở Thung lũng Silicon càng ra đời muộn càng giàu nhanh. Hewlett-Packard ra đời năm 1939 và phải mất 47 năm để có tài sản 1 tỷ USD. Để giàu được bằng mức ấy, Yahoo thành lập năm 1995 đã mất 2 năm, còn Netzero (sinh năm 1998) chỉ mất có 6 tháng, v.v..

Một vị khai lập Thung lũng Silicon là Frederick Terman nhận được học vị tiến sỹ kỹ thuật điện ở Viện MIT, về sau cũng trở thành giáo sư ĐH Stanford như cha mình. Giáo trình Bài giảng kỹ thuật vô tuyến của ông cuốn hút được nhiều sinh viên tài năng, trong đó có David Packard và Bill Hewlett. Năm 1938, do ông khuyến khích, hai chàng đã phát triển thành công một loại mạch dao động mới. Một năm sau, với số vốn ban đầu 538 USD, hai người này thành lập công ty khởi nghiệp công nghệ cao đầu tiên. Hiện nay, Hewlett-Packard là một tên tuổi hàng đầu.

Năm 1953, Frederick Terman phát động chương trình hợp tác để các kỹ thuật viên làm việc tại các công ty trong thung lũng có thể học thêm và cập nhật kiến thức mới, đồng thời các thành viên trong trường ĐH Stanford có dịp tiếp xúc thực tiễn công nghệ.

Terman còn thành lập "Công viên Nghiên cứu Stanford" của trường này. Đến năm 2000, đã có khoảng 50 công ty với 23.000 nhân viên và 50 trung tâm nghiên cứu. Việc đào tạo nâng cao chuyên môn cho các cán bộ trẻ được vận hành thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập giữa các công ty và các giáo sư đại học. Các giám đốc của các trung tâm nghiên cứu là những người vừa có chuyên môn như các giảng viên đại học lại vừa có năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh.

Frederick Terman năm 1926

Vào thập kỷ 1950, Terman đã mời William Shockley về Santa Clara. Năm 1947, tại Bell Lab, Shockley cùng với Bardeen và Brittain chế tạo thành công chiếc transistor đầu tiên. Ba người được nhận Giải Nobel vào năm 1956. Shockley thành lập cơ sở riêng ở Palo Alto để sản xuất transistor và các link kiện chất rắn khác nhưng có 8 nhân viên sau một năm đã rời bỏ. Ông gọi họ là "Tám kẻ phản bội", gồm: Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Robert Noyce, Gordon Moore, Jay Last, Victor Grenich, Julius Blank.

Họ từng đề xuất ý tưởng về một công nghệ mới nhưng Shockley từ chối không cho nghiên cứu nó. Họ tìm đến một ngân hàng đầu tư ở New York và được giới thiệu với Sherman Fairchild, chủ một nhà máy thiết bị quân sự ở Long Island. Vốn là kỹ sư nên Fairchild phần nào hiểu được ý tưởng của tám người và cho họ vay 1,5 triệu USD. Năm 1957, Tập đoàn Bán dẫn Fairchild được thành lập tại thành phố Mountain View. Công nghệ “transistor silicon khuếch tán kép” nhận được sự chấp thuận của Không lực Mỹ. Điều đó đã khích lệ nhóm vượt qua khó khăn để chế tạo thành công loại transistor mà chỉ sau một năm rưỡi đã là sản phẩm độc quyền của Tập đoàn. Năm 1958, vi mạch do Robert Noyce phát triển cũng đi vào sản xuất, trở thành yếu tố quyết định cho Tập đoàn cất cánh.

"Tám kẻ phản bội"

Năm 1959, Sherman Fairchild mua lại toàn bộ Tập đoàn. Mỗi vị trong tám người được nhận 250.000 USD, nhưng họ dần dần rời bỏ Tập đoàn, Noyce và Moore ra đi vào năm 1968. Tháng 7 năm đó, vẫn tại Mountain View, hai vị này thành lập công ty “Integrated Electronics”, gọi tắt là Intel. Họ không đơn giản chỉ lặp lại những việc đã làm ở Fairchild mà còn vạch ra một hướng chiến lược hoàn toàn mới là tối tiểu hoá các vi mạch. Năm 1969, bộ nhớ Intel đầu tiên ra đời và đến năm 1971 là bộ vi xử lý đầu tiên i4004.

Thời kỳ đầu, Intel chủ yếu cung cấp các sản phẩm phục vụ quân sự. So với đối thủ chính là hãng Texas Instruments, Intel đã thay đổi đến tận gốc rễ phương thức sản xuất và đặt ra những chuẩn mực cao hơn về độ tin cậy. Hai năm sau khi bộ vi điều khiển đầu tiên của Texas Instruments là TMS1600 ra đời, Intel đã đuổi kịp với sản phẩm i8748.

Các bộ vi xử lý tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các máy vi tính. Năm 1976, hai chàng Steve Wozniak 26 tuổi và Steve Jobs 21 tuổi đã ráp được máy vi tính Apple I gồm cả bàn phím và màn hình. Với sự giúp đỡ về vốn của Arthur Rock, hai chàng thành lập hãng Máy tính Apple và nhanh chóng tung ra sản phẩm Apple II. Đến năm 1978, Apple thu được lợi nhuận hơn 2 triệu USD.

Marc Andreesen

Năm 1993 là bước ngoặt tiếp theo của Thung lũng Silicon với việc khai thác thương mại trên Internet và sự ra đời của “web”. Internet bắt đầu được truy cập rộng rãi nhờ phần mềm “Mosaic” của chàng sinh viên 21 tuổi Marc Andreesen ở ĐH Illinois. Nó vốn miễn phí và tính đến cuối năm 1993 đã có đến 1 triệu người sử dụng. Andreesen sau khi tốt nghiệp đã đến Thung lũng Silicon và gặp Jim Clark, nhà sáng lập Silicon Graphic. Tháng 4-1994, họ cùng nhau thành lập Mosaic Communications, ít lâu sau đổi thành Netscape.

Tháng 10-1994, Netscape tung ra trình duyệt web Navigator và nó còn thành công hơn cả Mosaic. Ngược với ý định ban đầu của Andreesen, Netscape lập tức đòi người dùng phải trả tiền. Ngay sau đó, Bill Gates tung ra Window 95 kèm trình duyệt miễn phí Internet Explorer. Đến năm 1998, Netscape đành phải để Navigator cũng miễn phí. Netscape được tiếp quản bởi American Online (AOL) vào tháng 11-1998. Tuy bị mất thị trường trình duyệt nhưng nó vẫn là một đại cao thủ Internet.

Trong thời gian đó, hai nghiên cứu sinh ở ĐH Stanford là Jerry Chih-Yang và David Filo đã thiết lập một máy tìm kiếm, về sau đổi tên thành "Yahoo". Đến cuối năm 1994, Yahoo đã có 100.000 người truy cập mỗi ngày. Ban đầu, mục đích của Chih-Yang và Filo chỉ là chơi cho vui. Sau đó họ đã biến Yahoo thành công cụ kiếm tiền bằng cách cung cấp các dịch vụ và cho đăng quảng cáo.

1998 --- David Filo and Jerry Yang, Co-founders of Yahoo! --- Image by © Ed Kashi/CORBIS

Năm 1995, cùng với sự tham gia của Mike Moritz và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Sequoia, Yahoo trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn với trụ sở ở Mountain View. Cũng giống như nhiều công ty khác trong Thung lũng Silicon, bí quyết thành công của Yahoo là có ý tưởng hay, đúng nơi và đúng lúc. Để chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng, Yahoo đã sớm cung cấp cho cư dân mạng những địa chỉ Email miễn phí và thường xuyên duy trì liên kết với các website khác. Từ vốn ban đầu 1 triệu USD, sau 4 năm tài sản của Yahoo đã tăng lên 8 tỷ USD tính đến 1999.

Cũng không thể không kể đến các anh tài về công nghệ phần mềm tại Thung lũng Silicon. Nổi bật trong đó là Oracle, hãng phần mềm lớn thứ hai thế giới sau Microsoft. Xuất phát với 2000 USD vào năm 1977, tài sản của hãng này đã lên tới 50 tỷ USD tính đến 1999. Cùng với Oracle là nhiều cái tên quen thuộc khác có trụ sở làm việc ở Thung lũng Silicon như: 3D Graphics, Sun Micro Systems, Silicon Graphics, tất cả đều phát triển xung quanh Đại học Stanford.

#NgChiCong ©2007-2019, Bảo tàng CNTT

Thẻ lỗ, bìa lỗ

Thẻ lỗ vốn là một mảnh gỗ (sau này được thay bằng bìa giấy thì gọi là bìa lỗ) quy định môi vị trí giao nhau của hàng và cột là nơi mã hoá thông tin bằng một bit nhị phân với giá trị cho vị trí có lỗ là 1 và không có lỗ là 0.

Tại Pháp năm 1801, nhà phát minh Joseph Marie Jacquard đã sáng chế ra loại máy dệt sử dụng thẻ lỗ bằng gỗ để tự động dệt vải theo các mẫu thiết k

Thẻ lỗ Jacquard

Tại Mỹ vào cuối những năm 1880, kỹ sư Herman Hollerith đã nhìn thấy một loại thẻ lỗ dùng cho đường sắt khi ông đi tìm cách tổng hợp thông tin thống kê cho Uỷ ban Điều tra Dân số. Thẻ đầu tiên của ông giống như thẻ đường sắt, chỉ có các lỗ dọc theo các cạnh. Ý nghĩa của mỗi lỗ được ghi trên thẻ. Vào thời điểm máy lập bảng Hollerith được sử dụng trong Điều tra dân số Mỹ năm 1890, các lỗ nằm rải rác trên thẻ, mặc dù ý nghĩa của chúng không được chỉ ra trên đó. Ông còn thay gỗ bằng bìa, từ đó thẻ lỗ được gọi là bìa lỗ hoặc bìa Hollerith.

Bìa Hollerith

Những chiếc máy tính sử dụng bìa lỗ đầu tiên đã xuất hiện vào đầu năm 1952. Thuật ngữ "file" (tập giấy) đã sinh ra từ hình ảnh hàng chồng (tệp) bìa lỗ dùng để lưu trữ dữ liệu cho máy tính thời đó xử lý. Chúng được đưa vào một máy đọc bìa lỗ có kết nối với máy tính để chuyển đổi chuỗi lỗ thành thông tin. Vào thời đó, lập trình viên thoạt tiên phải viết chương trình bằng tay, rồi công nhân dùng máy đục lỗ chuyển đổi chương trình thành nhiều bìa lỗ. Sau đó sẽ đưa chồng bìa vào máy đọc để nhập chương trình.

Bìa lỗ IBM

Ngày nay thẻ lỗ nói chung đã lỗi thời do dung lượng dữ liệu quá nhỏ trong khi kích thước lại quá lớn so với các bộ nhớ bán dẫn. Tuy nhiên chúng vẫn phù hợp ở những nơi không cần nhiều dữ liệu mà cần sự bền vững, ví dụ ở một số máy chơi nhạc, dệt vải, bầu cử, hộp phiếu thư viện, kiểm kê, tính giờ công, tính điểm, chấm thi, hoặc để trực tiếp điều khiển vũ khí và máy móc tự động, v.v.. Máy bỏ phiếu dùng màn hình cảm ứng đã thất bại khi được đưa vào để thay thế máy bỏ phiếu dùng bìa lỗ tại các trung tâm bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000.

Máy đọc bìa lỗ IBM 129

Bìa lỗ được sử dụng rộng rãi trong thế kỷ 20. Các công ty, tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc gia và quốc tế đã quy định chi tiết cho những loại bìa lỗ khác nhau, tiêu biểu là:

  • Chuẩn ISO 1681-1973: Tiêu chuẩn Quốc tế ISO về công nghệ thông tin.
  • Chuẩn ISO 6586-1980: Tiêu chuẩn Quốc tế ISO về công nghệ thông tin.
  • Chuẩn X 3.11–1990: Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ về công nghệ thông tin.
  • Chuẩn X 3.26–1980/R1991: Tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ về công nghệ thông tin.
  • Chuẩn INCITS 21-1967[S2007]: Uỷ ban Tiêu chuẩn Liên Quốc gia về công nghệ thông tin.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT

“Máy Antikythera” có từ 2000 năm trước

Cỗ máy nổi tiếng với cái tên "machine Antikythera" do một nhà khảo cổ học phát hiện vào năm 1902 trong đống đồ cổ được vớt trước đó 2 năm cùng các bức tượng đẹp từ xác một con tàu đắm tại đảo Antikythera thuộc Hy Lạp. Con tàu được cho là bị chìm vào khoảng 80-60 năm trước CN trên đường chở đồ quý của Hy Lạp dâng lên Tổng tài La Mã Julius Cesar, sau khi xuất phát từ đảo Rhodes, một trung tâm kỹ thuật thiên văn và cơ khí thời đó. Nhóm thám hiểm hải dương của viện sĩ Pháp Jacques-Yves Cousteau đã đến thăm nơi tàu đắm gần đảo Antikythera lần cuối vào năm 1978 nhưng không tìm thêm được gì đáng giá.

"Máy Antikythera" hiện trưng bày tại Viện Bảo tàng Khảo cổ học Quốc gia ở Athens, cùng với một mẫu tặng của sử gia khoa học Anh Derek de Solla Price dựng lại cách đây hơn nửa thế kỷ. Các mẫu dựng lại khác được trưng bày tại Viện Bảo tàng Máy tính của Mỹ ở Bozeman, Montana và Viện Bảo tàng Trẻ em ở Manhattan, New York.Gần đây, GS Michael Edmunds cùng một nhóm nghiên cứu khoa học Mỹ, Hy Lạp và các đồng nghiệp của ông thuộc Đại học Cardiff (Anh) đã khám phá thêm nhiều bí mật của chiếc máy kỳ lạ này, được chế tạo vào khoảng 150-200 năm trước CN, từ đó có thể thay đổi cách chúng ta nghĩ về thế giới cổ đại.

"Máy Antikythera" khá nhỏ: cao 33 cm, rộng 17 cm và dày 9 cm, làm bằng đồng, lúc đầu gắn trên một khung gỗ, có khắc hơn 3000 chữ Hy Lạp và Ai Cập cổ đã mờ mà phần lớn đến mãi gần đây mới được giải mã là một phần tài liệu hướng dẫn sử dụng thiết bị đo đạc thiên văn. Lạ nữa là những máy móc có độ phức tạp tinh vi tương tự chỉ bắt đầu được làm ra sau nó hàng chục thế kỷ và sự thụt lùi công nghệ này trong hơn nghìn năm đó thật khó giải thích.

Sau khi phân tích 3 bộ phận chính cùng hàng chục mảnh vỡ còn lại, các nhà nghiên cứu phát hiện hơn 30 bánh răng trong chiếc máy nói trên cho phép theo dõi chuyển động của các hành tinh như sao Hoá (Mars), sao Kim (Venus), sao Thuỷ (Mercury), với độ chính xác của một máy tính cơ khí analog. Nó cũng có thể tính đúng chuyển động của mặt trăng và mặt trời thông qua cung hoàng đạo (Zodiac), dự đoán được các hiện tượng nhật thực và chu kỳ của mặt trăng. Nhóm nghiên cứu còn cho rằng nó có thể dự đoán được vị trí của các hành tinh khác như sao Thổ...

"Máy Antikythera" sử dụng lịch Ai Cập với năm 365 ngày và biết tính đến cả năm nhuận trước Tây lịch Julius gần một thế kỷ. Theo BBC máy còn tính được cả thời điểm của 4 cuộc thi đấu thể thao lớn nhất thời cổ Hy Lạp, trong đó có đại hội Olympic. Người thiết kế ra nó có thể là nhà thiên văn Hipparchus, vốn từng sống khá lâu ở đảo Rhodes. Theo một số ý kiến, máy được thiết kế theo thuyết nhật tâm do bác học Aristarchus xứ Samos (310-230 trước CN) đề xuất, mặc dù thời đó thì thuyết địa tâm của Aristotle ngự trị.

Phát hiện này cho thấy kỹ thuật Ai Cập-Hy Lạp cổ đại tiên tiến hơn nhiều so với chúng ta thường nghĩ. Chưa nền văn minh nào có thể tạo ra một thiết bị phức tạp như thế suốt một nghìn năm sau. Những kết quả nghiên cứu mới nhất vừa được đăng trên tạp chí khoa học danh tiếng Nature xuất bản ngày 30-7-2008 cho biết nguyên lý của "máy Antikythera" có nguồn gốc từ đảo Sicily và có thể liên quan đến nhà bác học Archimedes...

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT
(source: Scientec 2008)

Bảo tàng quốc gia về tính toán (Anh)

Năm 2007, một bảo tàng của Vương quốc Anh mang tên “Niềm tin” (Trust) đã được thành lập tại công viên Bletchley Park, nơi trong chiến tranh Thế giới thứ II từng có nhà khoa học lẫy lừng Alain Turing làm việc ngày đêm trên tiền thân của những chiếc máy tính ngày nay. Đươc giới thiệu là "nơi lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất thế giới của những máy tính cổ vẫn còn hoạt động và một trong 100 “địa điểm không thể thay thế” hàng đầu của nước Anh, bảo tàng lưu giữ sự phát triển của ngành máy tính từ những nỗ lực tiên phong tuyệt mật của những năm 1940, qua các hệ thống lớn và máy tính chủ của những năm 1950-70, đến sự trỗi dậy của máy tính cá nhân vào những năm 1980 và sau đó.

Colossus Mark 2

Tên viết tắt của bảo tàng là TNMOC (The National Museum of Computing) và TNMOC. Toà nhà trung tâm là nơi đặt máy tính Colossus Mark 2. Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ II nó từng đánh bại tất cả những phương tiện thông tin mật mã do nước Đức quốc xã chế tạo mà có lẽ đứng đầu là chiếc máy mã Enigma lừng danh của quân đội phát xít cũng có trưng bầy tại đây. Hiện nay bảo tàng đã cho sửa chữa chiếc máy Colossus để nó hoạt động trở lại.

Máy mã Enigma

Bảo tàng được xây dựng để tưởng nhớ vai trò quan trọng của nước Anh trong thời kỳ đầu tiên của kỷ nguyên số. Andy Clark, một trong những sáng lập viên của bảo tàng, đã rất băn khoăn về việc không lẽ bảo tàng sẽ chỉ trưng bày toàn máy móc được đặt bên trong những chiếc tủ kính. Khi mở cửa bảo tàng cho khách thăm quan ông vui mừng thông báo rằng: "TNMOC không chỉ là bảo tàng của những chiếc máy tính mà còn là nơi sử dụng máy tính. Tại đây, khách thăm quan còn có thể "lướt" trên một hệ thống mạng được sử dụng vào năm 1976".

Đến với Bảo tàng TNMOC, khách tham quan có thể chiêm ngưỡng nhiều chiếc máy tính từ thời kỳ đầu. Được trưng bày tại đây ngoài chiếc Colossus Mark 2 còn có máy tính mini DEC PDP 8, một chiếc máy tính Elliott 803, một số màn hình ICL, đầu cuối (terminal) điều khiển hàng không và những màn hình cũ khác.

DEC PDP-8 Minicomputer

Theo lời ông Clark, để đảm bảo cho việc bộ sưu tập nêu trên hoạt động đều đặn phải có một khoản tiền đảm bảo là 250.000 bảng Anh. Tổng cộng phải chi một khoản tiền là 6 triệu bảng để thành lập và hợp pháp hoá việc đưa bảo tàng vào hoạt động. TNMOC đã mở cửa không chính thức vào ngày 12/7/2007.

Những người có sáng kiến thành lập Bảo tàng TNMOC hiện nay đang tìm kiếm sự ủng hộ từ các quỹ thiện nguyện và cá nhân hảo tâm để có thể gây dựng một bộ sưu tập phong phú và đa dạng hơn.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT

Ống chân không và máy tính điện tử

Trước khi transistor xuất hiện, linh kiện điện tử chủ yếu là ống chân không có dòng điện chạy qua giữa các điện cực. Ống hoạt động dựa trên nguyên lý bức xạ ion do nhiệt: cực âm được nung nóng phát ra các ion âm hay electron (điện tử) và chúng bị hút về cực dương.

LƯỢC SỬ

Thomas Edison năm 1883 đã dùng điện đốt nóng sợi dây tóc trong ống chân không, ông thấy có các điện tử phát ra và chúng có thể thu lại bằng một tấm kim loại. Hiện tượng này được gọi là bức xạ ion do nhiệt và tạo nên nguyên lý cơ bản cho hoạt động của các ống chân không.

1904 — phát minh Diode của Fleming

John Ambrose Fleming năm 1904 đã tạo ra diode, gồm một cực âm (cathode) và một cực dương (anode), có khả năng tạo ra dòng điện một chiều từ dòng điện xoay chiều. Đây là thành phần cơ bản của máy phát sóng vô tuyến và thiết bị chỉnh lưu điện.

Lee de Forest năm 1906-1908 đã đặt thêm một lưới tản nhiệt đặc biệt giữa cực âm và cực dương của diode, tạo ra triode. Sự đổi mới này cho phép sản xuất thiết bị khuếch đại và chuyển mạch điện tử, cơ sở của ngành điện tử hiện đại.

Triode của Lee de Forest

Trong các máy tính điện tử đời đầu, ống chân không chủ yếu được sử dụng để xử lý thông tin, bao gồm thực hiện các phép toán logic và đồng bộ hóa tín hiệu điều khiển máy.

Trước khi có ống chân không, các máy tính đã sử dụng các thiết bị cơ khí hoặc rơle điện cơ, vốn bền vững nhưng chậm và gây tiếng ồn. Ống chân không cho phép tạo ra các mạch hoàn toàn là điện tử, chạy nhanh hơn và có khả năng hỗ trợ các thiết kế với kiến ​​trúc phức tạp.

Các ống chân không có thể thực hiện ba chức năng cơ bản:

  • Chuyển mạch (BẬT/TẮT): ống được kết nối thành bộ đóng-mở nhanh, một thành phần cơ bản trong các cổng logic.
  • Khuếch đại: các tín hiệu không bị suy giảm mà ngược lại được tăng cường mạnh lên sau khi đi qua mạch.
  • Đồng bộ hoá: tạo ra các xung ổn định, đồng bộ về thời gian giữa các dữ liệu và tín hiệu điều khiển.

Các máy tính điện tử đời đầu thường dùng nhiều Triode là một ống chân không có ba điện cực:

  • Cathode: cực âm, nguồn nhiệt phát ra dòng điện tử.
  • Anode: cực dương, bộ phận thu nhận dòng điện tử.
  • Lưới điều khiển: cực trung gian để kiểm soát dòng điện tử.

Việc điều chỉnh linh hoạt điện thế trên lưới trung gian cho phép kiểm soát dòng điện tử đi từ cực âm tới cực dương. Nguyên lý này tạo nên nền tảng của mạch điện tử trong khuếch đạichuyển mạch.

Trong máy tính sử dụng ống chân không, 4 thành phần sau đây xuất hiện khắp nơi trong bộ xử lý trung tâm:

  • Cổng logic: các hàm AND, OR, NOT, được thực hiện bằng cách sử dụng ống chân không và các linh kiện thụ động (điện trở, tụ điện, cuộn cảm).:
  • Flip-flop: mạch có 2 trạng thái ổn định được sử dụng để lưu trữ bit dữ liệu trong các thanh ghi và bộ đếm.
  • Mạch điều khiển: quy định trình tự lệnh và quản lý tín hiệu nội bộ.
  • Khuếch đại và điều chỉnh tín hiệu: điều chỉnh tín hiệu từ các thiết bị điện tử nội bộ hoặc thiết bị ngoại vi bên ngoài.

Lưu ý: bộ nhớ chính trong các máy tính điện tử đời đầu thường không chỉ dùng ống chân không. Tuỳ từng loại máy tính và thời kỳ, các công nghệ bộ nhớ khác nhau đã ra đời và cùng tồn tại như: dây trễ, trống từ, xuyến ferrite hoặc ống Williams.

GIỚI HẠN CỦA ỐNG CHÂN KHÔNG

Các ống chân không đã được ứng dụng trong chế tạo máy tính điện tử, mặc dù chúng có những hạn chế lớn sau đây:

  • Tiêu thụ năng lượng và toả nhiệt lớn: nhiệt lượng tỏa ra liên tục ở các cực âm là một điểm trừ về kỹ thuật và kinh tế.
  • Độ tin cậy: Các máy tính điện tử có hàng nghìn ống chân không và thường xuyên gặp sự cố hỏng hóc.
  • Sự cồng kềnh: các ống chân không, thiết bị làm mát và hệ thống cấp điện chiếm nhiều diện tích trong phòng làm việc.
  • Thời gian khởi động lâu: cần có thời gian làm nóng trước khi hoạt động ổn định.

Điều này giải thích hoàn toàn dễ hiểu vì sao mà trong ngành công nghiệp máy tính việc ứng dụng các transistormạch tích hợp đã diễn ra rất nhanh chóng.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT

Micral–N: chiếc máy vi tính đầu tiên

Phần lớn lịch sử máy vi tính cho đến nay được viết trên đất Mỹ. Nhưng thực tế, cội nguồn của máy tính thương mại có chip vi xử lý đầu tiên trên thế giới lại thuộc về Pháp. “Cha đẻ máy vi tính” là kỹ sư Pháp François Gernelle và một doanh nhân gốc Việt, ông André Trương Trọng Thi.

Sau gần ba năm nằm bệnh viện, ông Thi qua đời tại Pháp ngày 4-4-2005 ở tuổi 69. Ông sinh năm 1936 tại Chợ Lớn, sang Pháp học từ năm 14 tuổi, sau đó vào Trường Vô tuyến điện EFRE ở Paris (nay đổi thành Trường Vô tuyến điện và Tin học EFREI) rồi trở thành kỹ sư vô tuyến điện. Năm 1971 ông thành lập Công ty R2E, và cùng các cộng sự cho ra đời máy vi tính Micral-N vào tháng 5.1973.

Trương Trọng Thi nhận Bắc đẩu bội tinh Pháp

Từ tháng 12 năm 1973, máy Micral đã có ổ đĩa mềm và đến năm 1974, nó được trang bị thêm đĩa cứng, bàn phím và màn hình. Trong những năm 1970, Micral N được bổ sung thêm các mẫu G, S, M, C và V; bốn mẫu cuối cùng sử dụng chip Intel 8080. Năm 1978, nhà sản xuất Micral, R2E, được tập đoàn máy tính khổng lồ CII Honeywell-Bull của Pháp mua lại, nhưng thương hiệu này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến năm 1983. Từ năm 1985 đến năm 1989, những chiếc máy tính nhỏ này được gọi là "Bull Micral", mẫu cuối cùng là Bull Micral 600.

Ý tưởng của ông Thi về máy vi tính vẫn được áp dụng đến bây giờ: máy gọn nhỏ, có thể sản xuất hàng loạt với giá phải chăng cho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động hàng ngày. Máy Micral khi ấy đã được đưa vào sử dụng ngay trong hệ thống thu phí xa lộ ở Pháp. Micral-N được xây dựng trên chip 8 bit Intel 8008 chạy ở 500 Khz, dung lượng bộ nhớ 256 bytes (với khả năng mở rộng lên... 1K !), có cả diode LED hiển thị và bàn phím.

Nhóm Micral của A.Trương và F.Gernelle

Mặc dù máy tính cá nhân tại châu Âu sau đó đã mở rộng thành rất nhiều hình thái khác nhau, từ các trò game video gia đình quen thuộc cho đến các workstation dành cho kỹ sư, nhưng có hai yếu tố kìm hãm tiến trình phát triển của nó. Thứ nhất, phần cứng và phần mềm của Mỹ xuất khẩu sang châu Âu có giá rẻ hơn. Thứ hai, ngôn ngữ là một rào cản lớn không chỉ về mặt dịch thuật, các bộ ký tự tại đa số các nước châu Âu cũng khác nhau, trong khi các chương trình và tài liệu bằng tiếng địa phương là điều kiện tiên quyết để máy tính cá nhân thành công.

Ngày 13.02.1994, ông François Gernelle đang xem TV và nghe lễ công bố kỷ niệm 20 năm ngày ra đời chiếc máy vi tính đầu tiên. Ông nhảy lên khi nhìn thấy hình ảnh người chủ cũ của mình, ông Thi, được tôn vinh là người phát minh ra chiếc máy Micral. Ông Thi đóng một vai trò mập mờ khá lâu. Trong vị trí giám đốc công ty R2E nơi ông cùng Gernelle nghiên cứu để tạo ra Micral, ông Thi đã tuyên bố mình là cha đẻ của máy. Vụ kiện kéo dài 4 năm (1994-1998) cho đến khi toà án phải công nhận Gernelle là người đồng phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên.

François Gernelle

Gernelle và ông Thi gặp nhau năm 1968 tại Intertechnique, một công ty chuyên về các ứng dụng y học và hạt nhân. Kỹ sư điện tử Gernelle lúc đó đã đề xuất một mô hình máy vi tính sơ khai, nhưng nó không hoạt động được. Năm 1972, Gernelle gia nhập vào công ty R2E do ông Thi làm chủ. Tại đây họ đã tìm ra cách tạo ra một hệ thống giá rẻ để tính toán mức độ bốc hơi nước trong đất cho Viện quốc gia nghiên cứu nông học INRA. Gernelle đề xuất một máy tính với chi phí phân nửa. Cuối cùng, nhờ vậy mà máy Micral được ra đời.

Sau này, Gernelle vẫn hơi cay đắng với ông Thi. Tại sao họ đánh mất cơ hội trở thành những người giàu nhờ phát minh này? Bởi vì một ngày trong năm 1975, họ đã lỡ dịp tạo ra một doanh nghiệp khởi sự (start-up) kỳ diệu. Chiếc máy Micral có một số thành công tại Pháp và hãng Honeywell của Mỹ quan tâm tới việc mua nó. Trong một quán bar ở Los Angeles, ông chủ của Honeywell ra giá 2 triệu USD để mua lại Micral và hệ điều hành Prologue của R2E. Ông Thi đòi 4 triệu và ông chủ Honeywell ra về hơi buồn. Sau 1983, khi hãng Bull của Pháp mua lại R2E, Gernelle rời ông Thi để mở một công ty riêng khác, nhưng đã quá chậm.

Máy vi tính Micral-N

Dù không tạo nên một sự nghiệp kinh doanh lớn, nhưng cái tên André Truong và Gernelle vẫn được ngành công nghiệp máy tính ghi nhận là 2 người phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên. Micral đã mở đường cho cuộc cách mạng vi tính làm thay đổi cuộc sống và cách giao tiếp của nhân loại chỉ trong vòng 20 năm. Các mẫu Micral hiện được trưng bày ở "Musée des arts et métiers à Paris" (Pháp) và "Boston Computer Museum" (Mỹ).

Một số mẫu Micral N nguyên bản hiện đang được lưu giữ trong các bộ sưu tập của Pháp; tuy nhiên, mẫu lâu đời nhất có lẽ là mẫu ở Bảo tàng Lịch sử Máy tính. Nó có niên đại từ thời cựu CEO của R2E, André Truong. Sau này, Paul Allen, người đồng sáng lập Microsoft và tỷ phú, đã mua với 62.000 euro một chiếc Micral N cho bảo tàng của mình ở Seattle tại một cuộc đấu giá.

Từ 2006 giảng đường trường EFREI mang tên André Truong

Năm 2006, nhân lễ kỷ niệm 70 năm thành lập trường EFREI, cựu giám đốc hãng Microsoft đã đọc lời ca ngợi của Bill Gates: "Ông Trương Trọng Thi là một trong những người đã nhận thức sớm khả năng của máy vi tính. Ông đã hướng công tác của mình theo con đường này trước khi tôi và Paul Allen khởi xướng Microsoft… Tôi đã vui thích làm việc với ông trong nhiều thập niên: ông luôn nuôi giữ óc sáng tạo và luôn sẵn lòng đem công nghệ phục vụ đại chúng".

Có thể Trương Trọng Thi chưa kịp đóng góp gì cho đất nước nơi ông sinh ra. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, chắc chắn sẽ có thêm nhiều người Việt biết đến ông và thêm tự hào rằng một trong 2 nhà phát minh ra máy vi tính là đồng hương của mình. Năm 2008 nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã đề nghị Nhà nước Việt Nam truy tặng ông một phần thưởng cao quý xứng đáng, và hình như cho đến nay chưa thấy trả lời. Tuy nhiên trên mạng Internet thì tư liệu về Micral-N và Trương Trọng Thi khá phong phú.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT